Từ thiện, một chiêu thức biến thái của chế độ Việt cộng
Trong vài năm qua, từ ngữ “biến thái” đã được dùng để chỉ “tiến trình lột xác”của chế độ Việt cộng. Sự lột xác từ môt chế độ độc tài toàn trị để chuyển sang một chế độ độc tài tư bản các nhà phân tích Tây phương thường gọi là chế độ của các tay “nam tước đỏ” (red barons). Chế độ độc tài này không kém sự tàn bạo của thời toàn trị trong thế kỷ 20, nhưng chế độ toàn trị đã lổi thời, không áp dụng được nữa trong điều kiện ngoại giao thương mãi của thế giới toàn cầu tư bản. Sự thay đổi này, đối với chế độ là một sự thay đổi sinh tử, giúp chế độ tiếp tục nắm giữ quyền lực cai trị và hợp thức hóa cho các đảng viên có thế lực của đảng trở thành những tay tư bản đỏ, những nam tước đỏ của chế độ, thâu tóm tài sản quốc gia làm của riêng và dùng thế lực để trao đổi cùng tài phiệt quốc tế.
Rủi thay, tiến trình biến thái của chế độ CSVN đã không suông sẽ như dự tính, cho đến nay đã gần 10 năm nhưng vẫn còn chật vật với những biến cố ngoài tầm tay của chế độ. Rõ nhất là mộng thôn tính hải ngoại, muốn bình thường hóa sự hiện diện của chế độ tại Hải ngoại.
Chúng ta đã thấy là dù chế độ đã có sự hỗ trợ của các đối tác tài phiệt, thành phần đang bắt tay làm ăn cùng chế độ, nhưng VC đã không khuyến dụ cũng như không lừa được đồng bào Hải ngoại tiếp nhận các chính sách có vỏ bọc đẹp đẽ làm lợi cho chế độ qua các vụ giúp đỡ du sinh, đổ tiền vào làm ăn tại VN hay đóng góp cho từ thiện, vân vân…
Dù mua chuộc được một vài tổ chức chính trị thời cơ xôi thịt hay dàn dựng ra được vài “nhà dân chủ” trong nước, dù cố hướng nỗ lực đấu tranh của quần chúng vào việc chống Trung quốc thay vì nhắm thẳng vào chế độ bán nước, dâng đất đai cho ngoại bang, VC cũng không thể nào lôi kéo quần chúng Hải ngoại đứng về phía của chế độ hay khoả lấp được truyền thống khom lưng uốn gối trước ngoại bang của họ.
Dù sử dụng những chiêu bài tôn giáo, văn hóa, hay từ thiện, chế đô cũng không thể dẹp được lá cờ Vàng, môt biểu tượng tự do của người Việt. Toan tính của Hồng y Phạm Minh Mẫn muốn dẹp bỏ lá cờ Vàng đã bị thất bại nặng khi Đức Thánh Cha Benedict XVI quàng lá cờ lên vai của Ngài và rừng cờ Vàng của cộng đồng người Việt tại Sydney. Kế hoạch núp dưới vỏ bọc du sinh để tuyên truyền cho chế độ, dù được công phu dàn dựng với sự mua chuộc tiếp tay của những thành phần chính trị thời cơ trong Cộng đồng nhưng đã không qua khỏi mắt của quần chúng tại Brisbane , Úc châu. Lòng thương người của đồng bào Hải ngoại đã bị lợi dụng khai thác qua những ngã quyên góp từ thiện, cứu trợ y tế, nhưng tấm bình phong “không làm chính trị của cô Tim” đã không đủ dày để che dấu cho sự gian dối của cô, “ngôi nhà hy vọng” của cô Tim cũng không đủ vững để giúp cho chế độ có thêm hy vọng len lấn ra Hải ngoại.
Như đã nói ở trên, dù thế nào thì chế độ VC vẫn không thể kềm chế được người dân, ở trong nước cũng như để len lấn ra Hải ngoại. Nhưng vì là nhu cầu sinh tử của chế độ cho nên các mưu toan len lấn vẫn tiếp tục và ngày càng tinh vi. Nếu những năm đầu tiên chúng ta thấy VC chỉ thay đổi cách tuyên truyền qua những danh xưng nói về người tỵ nạn, có tính cách êm dịu hơn để kêu gọi “khúc ruột ngàn dậm Việt kiều” mang tiền về nước lẻ tẻ, ăn chận tiền của những tổ chức từ thiện quốc tế, thì những cách tuyên truyền, ăn bẩn này cũng thay đổi dần theo thời gian, biến thành những cuộc lạc quyên rộng lớn mang hình thức tôn giáo, mang tính ái hữu đồng hương làng xã, dựng ra những tổ chức từ thiện “thân Hanoi, ủng hộ chế độ” để không được tiền thì cũng được tiếng “nhân đạo”. Cứ thế mà bao nhiêu tiền của người Hải ngoại đổ về trên 30 năm, và xã hội vẫn nghèo nàn lạc hậu, và cán bộ thì vẫn ăn trên ngồi trước.
Phải chăng đã đến thời điểm mà những người Hải ngoại, mà tấm lòng đối với người thân nói riêng cũng như đồng bào nói chung đã được thấy rõ bằng số tiền gửi về nhiều tỉ đô la hàng năm, cần dành chút thời gian để nhìn vào thực tế của xã hội VN để nhìn vào những nhao nhao cổ võ làm việc từ thiện mà mục đích là trực tiếp hỗ trợ cho chế độ. Phải chăng đã đến lúc mà những người “hành nghề từ thiện” cần phải coi lại lương tâm của mình?. Phải chăng đã đến lúc mọi người hãy mở rộng mắt nhìn thẳng vào bản chất của những việc gọi là từ thiện, nhưng thực chất chỉ là làm công không cho bộ xã hội của chế độ, giải quyết các khó khăn do chính chế độ gây ra?. Phải chăng đã đến lúc những những người thực tâm muốn làm việc từ thiện nên đặt thẳng vấn đề trách nhiệm với chế độ VC hơn là tự gánh vào thân một việc làm như xe cát biển Đông để tự an ủi lương tâm trong chốc lát?
Minh Thọ
Tâm Thức Việt Nam
November 21, 2008
Nghe
Tải xuống để lưu giữ:
http://www.tamthucviet.com/UserFiles/audio/tuthien.mp3
http://www.tamthucviet.com/articlevi...Id=%C5%93E%19Y
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3949
---
Thursday, November 27, 2008
Wednesday, November 26, 2008
Hòa Lan: Thư mời Hội thảo về nhân quyền và tự do tôn giáo cho VN
Hòa Lan: Thư mời Hội thảo về nhân quyền và tự do tôn giáo cho VN
Eindhoven 21-11-2008
Kính gởi: - Quý vị lãnh đạo tôn giáo
- Đại diện đoàn thể, tổ chức, ban đại diện địa phương
- Quý đồng hương
Kính thưa quý vị,
Sau đệ nhị thế chiến, ý thức rằng tôn trọng nhân quyền là một trong những lý do con người có thể tránh chiến tranh, bạo động và mang lại hoà bình, hạnh phúc cho nhân loại. Vì thế Bản Tuyên-Ngôn Quốc-Tế Nhân-Quyền ra đời 1948, mục đích không gì hơn là làm sao cho cuộc sống con người ngày càng được cải thiện tốt đẹp theo đúng nghĩa “con người”.
60 năm qua, rõ ràng quyền làm người trên trái đất có nhiều thay đổi, tiến bộ. Tuy nhiên đến nay vẫn còn nhiều quốc gia đã đi ngược lại xu thế của lịch sử.
Trong vài quốc gia theo chủ thuyết CS còn tồn tại, VN là nước vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn và thô bạo nhất.
Người nông dân VN sống dưới chế độ CS bị mất đất, mất vườn. Dân oan khiếu kiện khắp nơi, không ai giải quyết. Công nhân làm việc nặng nhọc với đồng lương chết đói. Nếu phản đối, bị chủ nhân cấu kết với chính quyền đàn áp thẳng tay. Các nhà dân chủ có lòng với đất nước lên tiếng trước tình cảnh bất công đó, bị trấn áp tù đày.
Trước hiện trạng đau thương đó, con người có khuynh hướng tìm an ủi tâm linh nơi đấng thiêng liêng. Niềm an ủi này cũng không được tôn trọng.
Giáo Hội Phật giáo VNTN từ trước đến nay bị gây khó khăn hoặc cấm hoạt động. Các tôn giáo khác như Cao-Đài, Hoà-Hảo, Tin-Lành hoàn cảnh cũng không khác gì hơn. Riêng Công giáo, gần đây qua sự việc nhà nước ngang nhiên cướp đất của Toà Khâm-Sứ và Giáo xứ Thái-Hà là một ví dụ điển hình. Quyền tự do tôn giáo bị tước đoạt trắng trợn.
Với tất cả những ưu tư trên, nhân kỷ niệm 60 năm Bản Tuyên-Ngôn Quốc-tế Nhân-Quyền ra đời, Ban Chấp Hành CDVNTNCSHL mời một số lãnh đạo tôn giáo, đại diện tổ chức đoàn thể tham gia làm diễn giả cho buổi Hội luận với chủ đề :
Nhân quyền và Tự do tôn giáo cho VN .
Thời gian: Ngày Chủ Nhật 14-12-2008 từ 13:00 đến 17:30
Địa điểm: Hội trường ‘h Veerhuis
Nijemonde 4- 3434 AZ Nieuwegein Zuid Tel: 030-6067698
Holland
Chúng tôi tha thiết trân trọng kính mời quý vị đến tham dự buổi Hội thảo.
Sự hiện diện của quý vị là một đóng góp cho công cuộc đấu tranh vì Tự-do, Dân-chủ và Nhân-quyền cho VN. Sự hiện diện của quý vị cũng là niềm vinh hạnh cho ban tổ chức chúng tôi.
Trân trọng kính chào,
T/m CDVNTNCS/HL
Chủ tịch,
Nguyễn Liên Hiệp
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3943
---
Eindhoven 21-11-2008
Kính gởi: - Quý vị lãnh đạo tôn giáo
- Đại diện đoàn thể, tổ chức, ban đại diện địa phương
- Quý đồng hương
Kính thưa quý vị,
Sau đệ nhị thế chiến, ý thức rằng tôn trọng nhân quyền là một trong những lý do con người có thể tránh chiến tranh, bạo động và mang lại hoà bình, hạnh phúc cho nhân loại. Vì thế Bản Tuyên-Ngôn Quốc-Tế Nhân-Quyền ra đời 1948, mục đích không gì hơn là làm sao cho cuộc sống con người ngày càng được cải thiện tốt đẹp theo đúng nghĩa “con người”.
60 năm qua, rõ ràng quyền làm người trên trái đất có nhiều thay đổi, tiến bộ. Tuy nhiên đến nay vẫn còn nhiều quốc gia đã đi ngược lại xu thế của lịch sử.
Trong vài quốc gia theo chủ thuyết CS còn tồn tại, VN là nước vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn và thô bạo nhất.
Người nông dân VN sống dưới chế độ CS bị mất đất, mất vườn. Dân oan khiếu kiện khắp nơi, không ai giải quyết. Công nhân làm việc nặng nhọc với đồng lương chết đói. Nếu phản đối, bị chủ nhân cấu kết với chính quyền đàn áp thẳng tay. Các nhà dân chủ có lòng với đất nước lên tiếng trước tình cảnh bất công đó, bị trấn áp tù đày.
Trước hiện trạng đau thương đó, con người có khuynh hướng tìm an ủi tâm linh nơi đấng thiêng liêng. Niềm an ủi này cũng không được tôn trọng.
Giáo Hội Phật giáo VNTN từ trước đến nay bị gây khó khăn hoặc cấm hoạt động. Các tôn giáo khác như Cao-Đài, Hoà-Hảo, Tin-Lành hoàn cảnh cũng không khác gì hơn. Riêng Công giáo, gần đây qua sự việc nhà nước ngang nhiên cướp đất của Toà Khâm-Sứ và Giáo xứ Thái-Hà là một ví dụ điển hình. Quyền tự do tôn giáo bị tước đoạt trắng trợn.
Với tất cả những ưu tư trên, nhân kỷ niệm 60 năm Bản Tuyên-Ngôn Quốc-tế Nhân-Quyền ra đời, Ban Chấp Hành CDVNTNCSHL mời một số lãnh đạo tôn giáo, đại diện tổ chức đoàn thể tham gia làm diễn giả cho buổi Hội luận với chủ đề :
Nhân quyền và Tự do tôn giáo cho VN .
Thời gian: Ngày Chủ Nhật 14-12-2008 từ 13:00 đến 17:30
Địa điểm: Hội trường ‘h Veerhuis
Nijemonde 4- 3434 AZ Nieuwegein Zuid Tel: 030-6067698
Holland
Chúng tôi tha thiết trân trọng kính mời quý vị đến tham dự buổi Hội thảo.
Sự hiện diện của quý vị là một đóng góp cho công cuộc đấu tranh vì Tự-do, Dân-chủ và Nhân-quyền cho VN. Sự hiện diện của quý vị cũng là niềm vinh hạnh cho ban tổ chức chúng tôi.
Trân trọng kính chào,
T/m CDVNTNCS/HL
Chủ tịch,
Nguyễn Liên Hiệp
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3943
---
Tuesday, November 25, 2008
Chủ Nghĩa Hình Thức
Chủ Nghĩa Hình Thức
Trực Nhân
Chắc hẳn mọi người còn nhớ việc trình diễn nhép miệng trong buổi lễ khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008. Cô bé Yang Peiyi, 7 tuổi, dù có giọng hát trong vắt như pha lê, đã không được cho phép ra đứng hát trong buổi lễ. Ban Tổ chức và những người có trách nhiệm của nhà nước Trung quốc đã thay vào đó cô bé Lim Miaoke, 9 tuổi, ra đứng nhép miệng, với lý do đơn giản là có gương mặt “dễ coi” hơn Yang Peiyi. Trong những giải thích, nhà nước Trung quốc đã coi việc này như là vấn đề trình diễn tạo chú ý hình thức bề ngoài, chứ không coi đó là hành động kỳ thị, không lương thiện trong một cuộc tranh tài thể thao quốc tế, mà tinh thần bình đẳng và ngay thẳng lúc nào cũng được đề cao. Còn ban Tổ chức Thế vận thì họp báo chính thức nói rằng họ không biết gì về sự kiện này và sẽ coi lại. Thế là xong, mọi vấn đề coi như được giải quyết, dù bị dư luận bàn tán và phê phán.
Trau chuốt bề ngoài để phô trương đã là môt quy luật bắt buộc phải thi hành dưới các chế độ Cộng sản, để tuyên truyền “đánh bóng”cho lãnh đạo và chế độ, nhằm che dấu một xã hội không có gì đáng hãnh diện ngoài hệ thống nhân sự và phương tiện trấn áp. Cho nên tuy Trung Cộng được coi là đã biến thái thành công trở thành “xì thẩu”, nhưng bản chất “đóng tuồng” vẫn không có gì thay đổi. Nghĩa là dân có thể đói chứ đảng không thể xấu.
Những lãnh đạo đảng CSVN biến thái và tay chân khi áp dụng cái quy luật này đã vượt trội hơn những đàn anh Trung quốc. Những bộ áo đại cán hoặc áo sơ mi trắng ngả màu được thay bằng các bộ đồ lớn đúng thời trang và những tà áo dài thêu tay tỉ mỉ của các bà lớn không nói làm gì. Những chiếc xe đạp thồ Trung quốc hay “Honda tiếp thu” được thay thế bằng những chiếc xe hơi đời mới bóng loáng cũng không có gì đáng nói, nếu mà các bộ phận trong xe không có đòi hỏi cầu kỳ khắc thêm tên của chủ. Và nếu mà các công tử con quan cán bộ lãnh đạo không có trò đem giấy trăm đô la ra châm thuốc lá để biểu diễn sự khinh thường tiền bạc làm lác mắt đàn em và gái.
Với cái lối tiêu tiền của Cộng sản biến thái thành tài phiệt như thế thì những tay đàn tay ca hải ngoai vất vả chạy show tất nhiên không bỏ qua khi có dịp để về kiếm cháo. Và đương nhiên là không thể không ca tụng là Việt nam bây giờ “cởi mở” lắm rồi. Hải ngoại thuốc lắc không thấy nhiều, nhưng trong nước thì nhan nhản trong giới thanh niên nam nữ “tiến bộ” trong lãnh vực dâm tình. Những tay chính trị hô hào tiếp cận để thay đổi dĩ nhiên là cũng không ra ngoài các mục đích mong được ghé vào cái bàn tiệc rượu ê hề của đám tài phiệt đỏ đó.
Cũng ưu việt là trong phần phô trương hình thức trong lãnh vực tâm linh. Cặp thiền sư giáo phái Làng Mai-Làng Hồng được khuyến khích dắt tay nhau về dưới võng lọng nghênh ngang cùng các đệ tử tùy tòng lập đàn làm chay khua chuông gõ mõ râm ran. Rồi ngày kỷ niệm Phật đản quốc tế 2008 cũng được đỡ khỏi tay nhà sư chống Cộng thời cơ vác từ Thái Lan về, để thế giới biết rằng “đảng và nhà nước ta” đã nhất tâm tôn kính đức Từ phụ Như Lai. Còn Nguyễn Tấn Dũng thì đã vào Vatican gặp đức Thánh Cha, và tiếp tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, giúp bộ máy tuyên truyền nhà nước cơ hội ca tụng lãnh đạo cấp tiến. Thử hỏi có đàn anh Trung quốc, Cu ba hay Bắc Hàn nào làm được những chuyện vĩ đại ngang tầm đỉnh cao trí tuệ loài người như vậy?
Ở mức nhỏ hơn, thì “nhà nước ta” cũng đã cải tạo được “cô đầm ba lô” Aline Rebeaud thất nghiệp, lang bạt kỳ hồ Thái Lan Cam bốt thuở nào để biến thành “nàng tiên nhân đạo” mang tên cô Tim, sửa sang sắc đẹp, đi ra các cộng đồng Việt Nam vừa ngửa tay xin tiền từ thiện, vừa trừng mắt quát đòi dẹp bỏ lá cờ vàng, để trống chỗ cho lá cờ sao đẫm máu đang chờ chực từ lâu mà chưa có dip tung bay. Kế hoạch này không may bị bể. Chỉ vì hải ngoại không có nhiều những thành phần đầu óc cỡ như Anh Đào Traxel con gái nuôi ông cựu tổng thống Pháp Chirac, hay là như nhà hoạt động được Tây thuộc địa dậy dỗ nọ ở Liège bên Bỉ, tay chủ tịch kia ở vùng quê mù sương Fresno, hoặc ông sư Về Nguồn ở Mississauga tiểu bang Toronto Canada.
Khi mà phải dùng mọi cách tô son trát phấn hình thức bên ngoài để tạo ấn tượng thì chỉ cho người ta thấy rằng là cái bên trong không có gì đáng kể. Nhất là khi son phấn là những hạng rẻ tiền mạt hạng.
---
Trực Nhân
Chắc hẳn mọi người còn nhớ việc trình diễn nhép miệng trong buổi lễ khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008. Cô bé Yang Peiyi, 7 tuổi, dù có giọng hát trong vắt như pha lê, đã không được cho phép ra đứng hát trong buổi lễ. Ban Tổ chức và những người có trách nhiệm của nhà nước Trung quốc đã thay vào đó cô bé Lim Miaoke, 9 tuổi, ra đứng nhép miệng, với lý do đơn giản là có gương mặt “dễ coi” hơn Yang Peiyi. Trong những giải thích, nhà nước Trung quốc đã coi việc này như là vấn đề trình diễn tạo chú ý hình thức bề ngoài, chứ không coi đó là hành động kỳ thị, không lương thiện trong một cuộc tranh tài thể thao quốc tế, mà tinh thần bình đẳng và ngay thẳng lúc nào cũng được đề cao. Còn ban Tổ chức Thế vận thì họp báo chính thức nói rằng họ không biết gì về sự kiện này và sẽ coi lại. Thế là xong, mọi vấn đề coi như được giải quyết, dù bị dư luận bàn tán và phê phán.
Trau chuốt bề ngoài để phô trương đã là môt quy luật bắt buộc phải thi hành dưới các chế độ Cộng sản, để tuyên truyền “đánh bóng”cho lãnh đạo và chế độ, nhằm che dấu một xã hội không có gì đáng hãnh diện ngoài hệ thống nhân sự và phương tiện trấn áp. Cho nên tuy Trung Cộng được coi là đã biến thái thành công trở thành “xì thẩu”, nhưng bản chất “đóng tuồng” vẫn không có gì thay đổi. Nghĩa là dân có thể đói chứ đảng không thể xấu.
Những lãnh đạo đảng CSVN biến thái và tay chân khi áp dụng cái quy luật này đã vượt trội hơn những đàn anh Trung quốc. Những bộ áo đại cán hoặc áo sơ mi trắng ngả màu được thay bằng các bộ đồ lớn đúng thời trang và những tà áo dài thêu tay tỉ mỉ của các bà lớn không nói làm gì. Những chiếc xe đạp thồ Trung quốc hay “Honda tiếp thu” được thay thế bằng những chiếc xe hơi đời mới bóng loáng cũng không có gì đáng nói, nếu mà các bộ phận trong xe không có đòi hỏi cầu kỳ khắc thêm tên của chủ. Và nếu mà các công tử con quan cán bộ lãnh đạo không có trò đem giấy trăm đô la ra châm thuốc lá để biểu diễn sự khinh thường tiền bạc làm lác mắt đàn em và gái.
Với cái lối tiêu tiền của Cộng sản biến thái thành tài phiệt như thế thì những tay đàn tay ca hải ngoai vất vả chạy show tất nhiên không bỏ qua khi có dịp để về kiếm cháo. Và đương nhiên là không thể không ca tụng là Việt nam bây giờ “cởi mở” lắm rồi. Hải ngoại thuốc lắc không thấy nhiều, nhưng trong nước thì nhan nhản trong giới thanh niên nam nữ “tiến bộ” trong lãnh vực dâm tình. Những tay chính trị hô hào tiếp cận để thay đổi dĩ nhiên là cũng không ra ngoài các mục đích mong được ghé vào cái bàn tiệc rượu ê hề của đám tài phiệt đỏ đó.
Cũng ưu việt là trong phần phô trương hình thức trong lãnh vực tâm linh. Cặp thiền sư giáo phái Làng Mai-Làng Hồng được khuyến khích dắt tay nhau về dưới võng lọng nghênh ngang cùng các đệ tử tùy tòng lập đàn làm chay khua chuông gõ mõ râm ran. Rồi ngày kỷ niệm Phật đản quốc tế 2008 cũng được đỡ khỏi tay nhà sư chống Cộng thời cơ vác từ Thái Lan về, để thế giới biết rằng “đảng và nhà nước ta” đã nhất tâm tôn kính đức Từ phụ Như Lai. Còn Nguyễn Tấn Dũng thì đã vào Vatican gặp đức Thánh Cha, và tiếp tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, giúp bộ máy tuyên truyền nhà nước cơ hội ca tụng lãnh đạo cấp tiến. Thử hỏi có đàn anh Trung quốc, Cu ba hay Bắc Hàn nào làm được những chuyện vĩ đại ngang tầm đỉnh cao trí tuệ loài người như vậy?
Ở mức nhỏ hơn, thì “nhà nước ta” cũng đã cải tạo được “cô đầm ba lô” Aline Rebeaud thất nghiệp, lang bạt kỳ hồ Thái Lan Cam bốt thuở nào để biến thành “nàng tiên nhân đạo” mang tên cô Tim, sửa sang sắc đẹp, đi ra các cộng đồng Việt Nam vừa ngửa tay xin tiền từ thiện, vừa trừng mắt quát đòi dẹp bỏ lá cờ vàng, để trống chỗ cho lá cờ sao đẫm máu đang chờ chực từ lâu mà chưa có dip tung bay. Kế hoạch này không may bị bể. Chỉ vì hải ngoại không có nhiều những thành phần đầu óc cỡ như Anh Đào Traxel con gái nuôi ông cựu tổng thống Pháp Chirac, hay là như nhà hoạt động được Tây thuộc địa dậy dỗ nọ ở Liège bên Bỉ, tay chủ tịch kia ở vùng quê mù sương Fresno, hoặc ông sư Về Nguồn ở Mississauga tiểu bang Toronto Canada.
Khi mà phải dùng mọi cách tô son trát phấn hình thức bên ngoài để tạo ấn tượng thì chỉ cho người ta thấy rằng là cái bên trong không có gì đáng kể. Nhất là khi son phấn là những hạng rẻ tiền mạt hạng.
---
Tường Trình Đêm Phát Truyền Đơn 22/11/20008 tại Velizy Villacoublay (France)
Tường Trình Đêm Phát Truyền Đơn 22/11/20008 tại Velizy Villacoublay (France)
Đêm Phát Truyền Đơn Chống Tim Rebeaud
Kính gửi:
- Quý Niên trưởng
- Quý Hội đoàn, Tổ chức và đảng phái tại Pháp và Âu Châu
- Quý Đồng hương khắp nơi
Xin tường thuật cùng Quý Niên trưởng và Quý vị về buổi phát truyền đơn chiều ngày 22/11/2008 tại Salle Maurice Ravel, 25 rue Louis Breguet, Velizy Villacoublay (ngoại ô Paris).
Hội cựu Quân nhân QLVNCH/vùng Puy de Dôme đã đến điểm hẹn ở Paris đúng giờ với 500 tờ truyền đơn A5, in 2 mặt (Pháp văn và Việt văn), mỗi mặt có hình Cờ Dân tộc VN (Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ). Từ điểm hẹn ở Paris, chúng tôi 9 người (Liên hội Cảnh sát Quốc gia VNCH/Âu châu + Ủy ban Bảo vệ Chính nghĩa Quốc gia + Hội Tù nhân Chính trị tại Pháp + Hội cựu Quân nhân/QLVNCH/Puy de Dôme + Trung tâm Điều hợp Tập thể Chiến sĩ VNCH/Âu Châu + Hội cựu SVSQ/TVBQGVN/tại Pháp) + VPLLQN/QLVNCH/Âu Châu) đã có mặt lúc 18:05 trước cửa ra vào Salle Maurice Ravel, Velizy Villacoublay để trương Cờ Dân tộc VN và phát truyền đơn có nội dung giải thích sự thật về ''cô Tim'' và về cái gọi là ''đêm Từ thiện'' hôm nay của cô ta, để quan khách Việt và ngoại quốc nhìn thấy được mặt trái của Tổ chức Từ thiện trá hình này. Chúng tôi tới sớm như vậy (cái đêm gọi là Từ thiện này bắt đầu 19 giờ 30), vì nghĩ rằng nếu đến sát giờ quá, quan khách họ vào nhiều rồi thì đâu có phát được nhiều truyền đơn. Mọi việc thành công tốt đẹp theo mong muốn. 4 Chiến hữu đã thủ 4 Cờ Dân tộc VN, đứng cách nhau mỗi người 3 thước trước cửa ra vào Salle Maurice Ravel, để có thể tiếp ứng cho nhau nếu xảy ra hữu sự. Còn 5 Chiến hữu kia, chia nhau chụp hình làm tài liệu và phát truyền đơn cho quan khách đến, cũng như gắn trên các kính xe trong sân đậu xe.
Ban Tổ chức (ông Trexel) đã ra phản đối chúng tôi và yêu cầu chúng tôi giải tán. Chúng tôi cho biết là chúng tôi không làm bất cứ gì đụng chạm đến Ban Tổ chức cả. Chúng tôi chỉ đến đây phát truyền đơn nói lên Sự Thật mà thôi. Phát xong, chúng tôi sẽ ra về. Ông Trexel bảo nếu chúng tôi không đi, thì ông sẽ gọi Cảnh sát tới. Chúng tôi nói, đó là tùy ông. Và chúng tôi tiếp tục phát truyền đơn. Quan khách Việt/Pháp vui vẻ nhận và cám ơn chúng tôi.
Đến 19 giờ, CH Nguyễn Đình Châu (Liên hội cựu CSQG/VNCH/Âu châu) đến tiếp tay với anh em. Đến 19 giờ 05 thì Cảnh sát tới. Họ hỏi mục đích của chúng tôi đến đây làm gì ? Chúng tôi cũng giải thích cho họ nghe những gì đã nói trong truyền đơn. Chúng tôi nói, nếu các ông có thì giờ, thì xin các ông đọc thêm cái này để rõ sự việc hơn. Họ vui vẻ, nhận mỗi người vài ba truyền đơn. Đọc xong, họ bỏ vào túi. Họ nói, đường phố là của cộng cộng, chúng tôi không được đứng đây phát truyền đơn như vậy, ngoại trừ có xin phép. Tốt nhất nên dùng internet và báo chí. Họ hỏi giấy tờ và công ăn việc làm của chúng tôi. Họ thấy chúng tôi đều quốc tịch Pháp, có công ăn việc làm đàng hoàng. Họ hết sức ngạc nhiên và mến phục khi biết có những Chiến hữu đã đi cả hơn ngàn cây số đến đây chỉ với mục đích phát những tờ truyền đơn này. Họ cũng rất ngạc nhiên và có cảm tình với chúng tôi khi đọc căn cước của nhiều Chiến hữu đến tuổi ''Thất thập cổ lai hy'' rồi, mà vẫn không ngại thời tiết giá buốt như đêm nay (2°), cùng anh em mang Sự Thật đến cho mọi người. Chúng tôi nói với họ, các ông, các bà thấy đó, chúng tôi có những Chiến hữu đến từ rất xa, và có những Chiến hữu đã lớn tuổi rồi, chúng tôi đâu có vui sướng gì đến đây dưới trời giá buốt này, nhưng vì bổn phận của lương tâm, chúng tôi phải đến mà thôi. Chúng tôi tin chắc, nằm vào địa vị của chúng tôi, Quý vị cũng không thể làm khác được.
Cảm tình của họ được thể hiện qua giọng và cách ăn nói của họ với chúng tôi. Họ rất thông cảm với việc làm của chúng tôi. Sau cùng, chúng tôi phát gần hết truyền đơn. Và vị quá lạnh, cảnh sát đề nghị chúng tôi giải tán trong ôn hoà. Chúng tôi nhận thấy trách nhiệm cũng đã chu toàn, nên chúng tôi xếp các lá Cờ Dân tộc VN lại và giải tán trong niềm hân hoan. Nhìn đồng hồ lúc đó là 19.30.
Khi về đến nhà, thì được biết Ông Bà Bs Phan Khắc Tường (Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự do tại Pháp), CH Nguyễn Hữu Xương (Hội cựu SVSQ/TVBQGVN/tại Pháp) và CH Châu văn Lộc (VPLLQN/QLVNCH/Âu-châu), vì lạc đường nên đến trể lúc 20 giờ.
Vài hàng kính tường trình đến Quý Niên trưởng, các Chiến hữu và Đồng hương.
Kính
Phạm văn Đức
VPLLQN/QLVNCH/Âu châu
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3908
http://www.vietland.net/main/attachment.php?attachmentid=30&d=1227620734
---
Click image for larger version
Click image for larger version Name: 22 11 2008 1.jpg Views: 4 Size: 89.1 KB ID: 25 Click image for larger version Name: 22 11 2008 16.JPG Views: 5 Size: 39.1 KB ID: 26 Click image for larger version Name: 22 11 2008 17.JPG Views: 4 Size: 37.2 KB ID: 27 Click image for larger version Name: 22 11 2008 2.jpg Views: 3 Size: 57.4 KB ID: 28 Click image for larger version Name: 22 11 2008 3.jpg Views: 3 Size: 68.4 KB ID: 29
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3907
---
22 11 2008 16.JPG 25-11-2008 20:32
22 11 2008 17.JPG 25-11-2008 20:32
22 11 2008 2.jpg 25-11-2008 20:32
Click image for larger version Name: 22 11 2008 2.jpg Views: 3 Size: 57.4 KB ID: 28
http://www.vietland.net/main/attachment.php?attachmentid=27&d=1227619927
---
Công Tác Xin Chữ Ký Vận Động Tên Đuờng Sài Gòn Blvd., Arlington, TX

Công Tác Xin Chữ Ký Vận Động Tên Đuờng Sài Gòn Blvd., Arlington, TX
Kính thưa quý vị,
Sau khi bàn thảo với Ông Cao V. Lâm, Hội Trưởng Hội CVSSQTBTĐ - DFW, anh Nguyễn Xuân Hùng, CT/CĐFW và anh Hà Thúc Thanh, PCT/CDDFW, chúng tôi đồng ý là Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Fort Worth và Vùng Phụ Cận sẽ phối hợp với Hội CSVSQTBTĐ - DFW và các hội đoàn khác trong vùng tổ chức một cuộc vận động chữ ký cho tên đường "Saigon Boulevard" tại thành phố Arlington, TX vào hai ngày cuối tuần này, tức là ngày thứ Bảy, 29/11 và Chủ Nhật, 30/11, từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều mỗi ngày. Tùy theo tình hình, chúng ta có thể kéo dài thời gian ghi danh.
Vì sự kiện này chỉ xảy ra ở thành phố Arlington mà thôi nên cuộc vận động chữ ký chỉ đươc tập trung tại Arlington, tại các cơ sở thương mại lớn như Hong Kong Market, Saigon Taipei, May Hao, Nam Hung, v.v... và nếu có thể, đặt bàn ghi danh ngay các cơ sở tôn giáo trong thành phố Arlington.
Để thực hiện cuộc vận động chữ ký, một số công việc cần được làm trước để chuẩn bị:
1. Thảo Thông Báo về cuộc vận động chữ ký càng sớm càng tốt và chuyển đến các cơ quan truyền thông nhờ phổ biến - Anh Nguyễn Xuân Hùng phụ trách
2. Xin phép các cơ sở thương mại vùng Arlington - Anh Nguyễn Xuân Hùng phụ trách
3. Làm biểu ngữ - Anh Nguyễn Kinh Luân phụ trách
4. Dịch Thỉnh Nguyện Thư sang Việt ngữ - Anh Hà Thúc Thanh phụ trách
5. Làm bảng cho đồng hương ghi danh - Anh Nguyễn Kinh Luân
6. In bảng ghi danh và Thỉnh Nguyện Thư - Anh Nguyễn Kinh Luân
7. Đặt bàn ghi danh trước các cơ sở thương mại - Hội CSVSQTBTĐ
8. Phụ trách ghi danh đồng hương - Hội CSVSQTBTĐ
9. Ẩm thực - CĐFW
10. Thu thập chữ ký để trình lên Hội Đồng Thành Phố - Anh Nguyễn Xuân Hùng
10. Làm Bản Tin - Nguyễn Kinh Luân
Dù trong Bản Công Tác chỉ liệt kê CĐFW và HCSVSQTBTĐ phụ trách, chúng tôi rất mong quý chú bác trong Hội Cao Niên FW giúp một tay trong công tác ghi danh và phụ trách phần ẩm thực như nhiều lần Hội Cao Niên đã giúp. Ngoài ra đây là công tác cần thiết và có ảnh hương lâu dài đến cộng đồng chúng ta, chúng tôi rất mong có sự tiếp tay của các hội đoàn, đoàn thể khác bằng cách tham dự công tác ghi danh, phổ biến tin tức, cử đại diện hoặc khuyến khích Hội Viên của mình đến tham dự ngày họp của HĐTP Arlington vào lúc:
6 PM ngày 2 tháng 12, 2008
101 W. Abram St.
Arlington, Texas 76004
Thân ái chào đoàn kết.
Trân trọng
Nguyễn Kinh Luân
lkn7843@yahoo.com
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3868
---
Xin đồng hương hãy giúp 1 tay trong vận động đặt Tên “Sài Gòn Boulevard ” cho 1 con đường tại Thành Phố Arlington, TX.
Quý vị nghĩ gì nếu thành phố Arlington Texas sẽ có con đường mang tên "Sài Gòn Boulevard”? Để đáp ứng nguyện vọng của bà con tại vùng Arlington TX, CĐNVQG tại vùng Fort Worth đã tán thành để Nghị viên thành phố Arlington Ông Robert Rivera đề nghị lên thành phố đặt tên đường Arkansas Lane thành Sài Gòn Boulevard.
Sẽ có 1 phiên họp quan trọng vào ngày 2 tháng 12 tại toà thị sảnh thành phố Arlington để bàn / yêu cầu biểu quyết về đề nghị nầy.
Để giấc mơ thành hiện thực, xin đồng hương gởi điện thư tới Ông Thị Trưởng và các nghị viên thành phố Arlington khuyến khích họ thông qua đề nghị nầy.
Để tiết kiệm thì giờ, chúng tôi đề nghị 2 mẫu điện thư để quí vị copy và gởi về các nghị viên và Thị Trưởng thành phố Arlington.
Xin hãy chọn 1 trong 2 điện thư và gửi đi.
Dear Mayor Cluck and members of Arlington City Council,
I encourage you to support the following names to be considered for naming some of the streets in the city of Arlington .
Martin Luther King Jr., Saigon Boulevard ; Cesar Chavez and Al-Salam.
This street naming project will reflect the diversity of our population, promote cultural harmony, good wills and as a result it will enhance economic development through tourism in the city of Arlington . Along with the new Cowboys stadium, the Rangers Ballpark, Six Flags over Texas , The Hurricane Harbor, these streets -- being located in a rich culture area -- will bring an international flavor to Arlington and render it as an attraction worldwide.
Thank you for your help.
Sincerely yours,
Your name
---
Dear Mayor Cluck and members of Arlington City Council,
I am writing this letter asking you to support the proposal to recognize civil rights activist Martin Luther King Jr., Cesar Chavez and symbols such as Saigon or Al-Salam to represent the Vietnamese and Muslim communities through street names in the city of Arlington, Texas.
These street names will reflect the diversity of the population in this city and will serve as tokens to promote cultural harmony and good businesses. Let’s help turn these streets into international ambassadors where prosperity through tourism and businesses is the goal of this dynamic city of Arlington .
Thank you for your consideration.
Respectfully yours
Your name
---
Sau đây là Email của Thị Trưởng và city council member của TP Arlington.
Thị Trưởng:
Mayor Bob Cluck:
robert.cluck@arlingtontx.gov
City Council Members:
Gene Patrick:
gene.patrick@arlingtontx.gov
Kathryn Wilemon:
kathryn.wilemon@arlingtontx.gov
Lana Wolff
lana.wolff@arlingtontx.gov
Robert Rivera
robert.rivera@arlingtontx.gov
Sheri Capehart
sheri.capehart@arlingtontx.gov
Mel Leblanc
Mel.Leblanc@arlingtontx.gov
Robert Shepart
Robert.Shepard@arlingtontx.gov
Jimmy Bennet
Jimmy.Bennett@arlingtontx.gov
Xin quý vị copy những địa chỉ email nầy và gởi thư về cho những vị đó. Để nhanh chóng, chúng tôi xin góp lại những địa chỉ Email nầy sau đây để quý vị copy cùng 1 lúc và gởi đi:
Mel.Leblanc@arlingtontx.gov, robert.cluck@arlingtontx.gov,robert.rivera@arlingtontx.gov kathryn.wilemon@arlingtontx.gov, lana.wolff@arlingtontx.gov, sheri.capehart@arlingtontx.gov, Robert.Shepard@arlingtontx.gov, Jimmy.Bennett@arlingtontx.gov, gene.patrick@arlingtontx.gov,
Đối với bà con ở các thành phố quanh Arlington, Texas, xin gọi cho chúng tôi để chúng tôi biết chắc sỉ số bà con chúng ta sẽ có mặt tại phiên họp của thành phố lúc:
6 PM ngày 2 tháng 12, 2008
101 W. Abram St.
Arlington, Texas 76004
để ủng hộ cho đề nghị quan trọng nầy.
Xin gọi để ghi danh:
Anh Hùng: 817 614 8733
Anh Luân: 469 233 9097
Anh Tom Ha 817 683 3139
Xin đến càng đông càng tốt... Xin quý vị vận động bà con, anh em và bạn bè của mình.
Kính chào đoàn kết.
Tom Hà, PCTCĐNVQG Fort Worth .
http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3868
---
Sunday, November 23, 2008
Sáng Danh cựu học sinh trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, SàiGòn
Những Anh Không Quân Tôi Yêu ... Mến
ToVanCap, Cập Nhựt 11/11/2008
Kể từ sau khi đọc xong cuốn “Đời Phi Công” của Toàn Phong, mỗi buổi sáng thay vì chạy bộ như thường lệ thì tôi lại giang thẳng 2 tay nghiêng cánh sắt, khi nghiêng bên phải lúc nghiêng trái chạy vòng vòng, môi chúm lại phát ra những tiếng “ù ù”, chúi đầu về phía trước bắn súng miệng : “pằng-pằng”. Mê KQ đến như thế nên khi Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ đến trường Pétrus Ký thuyết trình và chiêu dụ thanh niên chọn con đường “đi mây về gió” là tôi nạp đơn tình nguyện liền mặc dù lúc đó mới đang học lớp đệ nhất. Vì thiếu kinh nghiệm không biết uống 2 lít nước trước khi bước lên bàn cân nên bị loại vì không đủ tiêu chuẩn 50 kg.
Thua keo này ta bày keo khác, vừa hoàn thành “tú-đúp” lại nạp đơn liền, rút kinh nghiệm, kỳ này tôi uống thật nhiều nước, một lít nước nặng 1 kg chứ ít sao. Có lẽ ông trung sĩ có phận sự cân đo biết được “tẩy” của những chàng nhẹ ký nhưng nặng tình với KQ nên ông ta tà-tà không đi đâu mà vội ! Chỉ tội nghiệp cho người đứng trên bàn cân thì ôm bụng nhăn nhó đau khổ có thể tức nước vỡ bờ.
Nói ra các bạn đừng cười, thủa thiếu thời tôi mê KQ không phải vì bảo vệ vùng trời Tổ Quốc thân yêu mà vì thấy KQ được nhiều “người yêu” quá ! Yêu anh có cái mũ ca-lô đội lệch, bộ áo liền quần với nhiều “phec-mơ-tuya”, yêu anh có dao găm cùng 2 khẩu súng lủng lẳng hai bên, thương anh bay đêm với khúc bánh mì dắt túi.
Bạn bè cùng khám sức khỏe đã nhận được giấy gọi trình diện tại trại Phi Long TSN, còn tôi, đã bao ngày đợi mong chẳng thấy bóng “em” đâu nên tôi đầu quân vào Võ Bị. Chính vì mối tình dở dang với nàng KQ, “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” nên dù đã là Võ Bị, là TQLC, tôi vẫn yêu mến KQ, rất vui và hãnh diện được làm quen với những chàng KQ tử tế và hình như họ ... đều như thế cả.
Người đầu tiên tôi phải kể là tên Nguyễn xuân Thanh, tuy cùng chung lớp cùng trường Lycée Pétrus Ký nhưng nó Nam-Kỳ tôi rau muống, một tên Bê-Ka duy nhất trong lớp nên tên Xuân Thanh và đồng bọn ác ôn hành hạ tôi vô cùng khốn đốn, thấy mặt tôi là chúng la “B.K ăn cá rô cây” hay tệ hơn là chúng ca bài cải lương mà tôi nhớ suốt đời :
- “Ớ cái thằng nhỏ, mày đau làm sao mà dưới đ ... có cộng rau ... ”
Người xưa có nói : “trăm năm trả thù vẫn chưa muộn” nên tôi chờ sau khi ra trường, đi Võ Bị rồi tình nguyện về TQLC mới đi tìm tung tích hắn khắp 4 vùng chiến thuật nhưng vẫn chưa gặp, nghe nói nó đi KQ, nó bay trực thăng hay lái “bà già” ? Thiên bất dung gian, gần 50 năm sau bất ngờ đụng nhau trên đường Bolsa khi “bà già” lái nó bằng Honda Accord từ Oklahoma đường xa vạn dặm về Little Sài Gòn để dự đại hội KQ.64, thế là ác chiến xẩy ra tại chiến trường “bún chả Hà Nội”.
Một người cùng lớp khác là Nguyễn quang Kim đi K 17/VB rồi được chọn về KQ. khi tôi vào VB thì hắn là khoá đàn anh và dĩ nhiên tôi được hắn ưu ái phạt nhiều hơn, nghe nói anh ta bay khu trục nhưng không biết “giờ này anh ở đâu ?”
Một tên cùng lớp cùng xóm là trực thăng Đỗ Văn Minh, không biết hắn học khoá mấy, đơn vị nào nhưng từ sau vụ Hạ-Lào 71, chúng tôi cùng chung giới tuyến Quảng Trị, KQ và TQLC thường hay nói chuyện “trên Trời dưới Đất” với nhau.
Ngày N giờ G khi một đơn vị TQLC ở trên đồi Carrol bị pháo kích nặng nề, nhiều lính bị thương trong tình trạng thập tử nhất sinh, trực thăng tải thương chưa xuống được ! Bất ngờ tôi nghe tiếng Minh léo nhéo trong máy, nó đi tiếp tế cho một đơn vị bạn ở động Bà-Thìn đang trên đường về, chắc nó biết tình trạng bi đát của tôi nên hối thúc bằng bạch văn luôn :
- “Chỉ điểm khói tím cho tao xuống bốc thương binh”.
- “Không được, nguy lắm, gà tây (Mỹ) có cover mà còn chưa xuống được…”
- “C ... ĐM, tao biết chỗ mày rồi, tao xuống ... ”.
Vừa mừng lại vừa lo nhưng không còn chọn lựa nào hơn, tôi bảo lính thả khói tím và chuẩn bị tải thương. Khói tím chưa kịp bốc cao thì chuồn chuồn từ đâu nhào tới tưởng như nó đạp thắng xe hơi, thương binh được cõng, bốc, vác thẩy lên sàn trực thăng trong khi cái càng máy bay không chạm đất và rồi nó cất cánh bay đi.
Lạy Chúa ! An toàn trong nháy mắt, tôi mừng muốn thở hắt ra, thương binh đã được tải thương. Nếu không kịp cứu sống thì cũng không phải chết hai lần ! Xác một người lính đã được gói poncho chưa kịp tải thương thì lại bị pháo VC “mở ra” hai ba lần ! Đó là những chuyện bình thường ngoài chiến trường !
Tôi biết Đỗ-Minh bị “củ” và bị ăn củ ... vì vi phạm nguyên tắc “an phi”, nhưng nó chỉ cười vì đó là chuyện “bình thường” ! Có tiếp xúc với chiến trường thì mới biết trường hợp cứu bạn của KQ Minh chỉ là một trong nhiều trường hợp “bình thường”.
Lại vào một ngày N giờ G khác, TQLC được lệnh đi tiếp cứu một trực thăng bị rớt cách động Ông-Đô 5 km hướng Tây-Bắc. Ngày thứ nhất qua đi không thấy gì, ngày thứ 2 vẫn thế, cấp trên chửi thề bảo tôi vô trách nhiệm ! Qua ngày thứ ba thấy xác trực thăng bị cháy nhưng không thấy “xương” phi công. Tiếp tục bung rộng lục soát từng hốc đá bụi cây và ... tiếng Thiếu úy Nghĩa trung đội trưởng báo trên máy : “Đây rồi”.
Người phi công, quần bị cháy dở dang, nằm thở thoi thóp trong bụi rậm, kiến bu quanh vết thương đùi đã có mùi, có dòi ! Đã 3 ngày rồi còn gì ! Vậy mà chỉ cần vài nắp bi-đông nước cho ướt cặp môi khô đang rỉ máu thì bản năng sinh tồn khiến người phi công mở mắt, nhe hàm răng, đã 3 ngày không bàn chải, mỉm cười :
- “Tụi mày cứu tao đấy à ? TQLC đẻ tao lần thứ 2”.
Thật khó khăn nhận ra nó nếu không có cái bảng tên Minh, chính nó là trực thăng Đỗ Văn Minh đã chui vào đạn pháo cứu thương binh TQLC mấy ngày trước đây thôi. Mừng quá hoá bực mình, tôi chửi thề :
- “ Đẻ cái con c ... , mày hành tụi tao tìm ba ngày nay rồi, đứng dậy ... đi”.
Cứ như đùa với tử thần, lại còn ăn nói lỗ mãng, nhưng nếu có một hoạ sĩ nào vẽ lên khung vải không phải bức tranh “vân cẩu” mà là bức tranh tình huynh-đệ “KQ&TQLC” này thì chắc cũng dễ thương lắm nhỉ.
Cũng cần thêm vào bức tranh “KQ&TQLC” này một tấm lòng của phi công chở quan ... tài, anh bay C130 khứ hồi Sài Gòn Đà Nẵng chở quân, chở quan và quan tài của TQLC suốt trong thời gian SĐ/TQLC hành quân ở vùng I. Anh bay không mệt mỏi cho nhu cầu chiến trường, tiếp tế, tải thương, bổ sung quân số. Những khi phi cơ chở đầy quan-tài thì anh cho phép quan đi phép ngồi trong phòng lái. Nhờ vậy tôi mới biết thế nào là “sướng tận 9 tầng mây xanh”. Anh lái chim sắt qua những tầng mây xám, máy bay thì rung, mây bay vùn vụt như đập vào mặt khiến chân chúng tôi đạp thắng, tay ôm ngực tay bịt mồm cho khỏi bị ói khiến Trần văn Hợp chửi thề :
- “Thằng Vinh bay như con ... c ... ”
Rồi 2 thằng bạn cùng khoá nắm tay nhau cười, nay thì Hợp ở “chín suối”, người còn ở lại ấy là Vinh Đèo Đào quang Vinh.
Chẳng cứ phải là trực thăng Đỗ Văn Minh hay Đào Quang Vinh cùng lớp, cùng khoá, cùng xóm với TQLC mới đối xử với nhau tận tình như thế, kể sao cho hết những trường hợp người không quen mặt, bạn không biết tên. KQ đã quên mình trên Trời mà cứu Bộ Binh dưới đất. Tôi không có đủ khả năng để kể hết, nói lên những tấm gương sáng này, chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp xin gửi lời cám ơn muộn màng đến những chàng KQ không quen biết đã tiếp và cứu đơn vị tôi trong những lúc khốn đốn.
Năm 1965, trên đường vào cứu đồn Đức Cơ, Kontum, toàn đơn vị sa vào thế trận “công đồn đả viện” của địch, những “con ma, thần sấm” đến thả bom cứu bồ. Địch trong hầm hố lại quá gần quân ta nên bom thả từ trên cao kém hiệu quả, rồi thình lình một phản lực xì khói, cánh dù bung ra trên tít trời cao ! Những phản lực còn lại bỏ mục tiêu dưới đất mà bay vòng tròn bao quanh cánh dù và thả bom diệt những tràng đạn lửa phòng không bắn lên.
Nhìn theo cánh dù lơ lửng trên cao tôi cầu mong sao cho nó bay về hướng quân ta, nhưng buồn thay, dù cứ bay xa về hướng địch trong ánh nắng hoàng hôn và mất hút ở biên giới Việt Miên ! Tôi không biết người phi công ấy là Việt hay Mỹ nhưng lòng buồn khôn tả ! Trên khắp các chiến trường đã có những cánh dù như thế và người phi công không bao giờ trở về !
Phản lực đi rồi thì khu trục đến, trông nó xấu trai nhưng liều ra phết, nắm chắc là phi công là phe ta chứ không phải Tây, các chàng bay sát ngọn cây để tránh phòng không dầy đặc mà còn để thả bom xăng-đặc ngay trên tuyến những người “anh em”, không thành chả thì cũng thành nem nướng, tuy nằm cách xa mà chúng tôi cũng cảm thấy nóng tới độ muốn quăn cả lông mày lẫn lông tao. Sau vài “bát”, con cháu bác bỏ xác bạn chạy lấy người, mặt trận trở nên yên tỉnh.
Đêm về, nằm ngửa mặt trên tuyến nhìn ánh trăng không xuyên qua khỏi khói đạn bom, miệng há hốc không đủ ốc (xy) để ăn nhưng được an ủi không phải tiếp tục bóp cò và ăn pháo kích, địch đã cao chạy xa bay. Ngày hôm sau chúng tôi tiến vào tới đồn Đức Cơ thoải mái.
Cám ơn những người anh em phi công hào hoa, không có các anh tiếp đạn chắc chúng tôi sẽ vất vả lắm đấy, nhưng cho đến bây giờ vẫn không biết các anh là ai, những người cầm lái những khu trục đó ?
Quay về vùng Bốn, trận chiến trên kinh Cái Thia quận Cai Lậy vào ngày 31/12/1967 giữa 1 tiểu đoàn TQLC và 2 tiểu đoàn VC không kém khốc liệt. Trực thăng vừa đổ quân ta xuống là đã bị phủ đầu ngay bởi đủ mọi loại súng từ trong bờ kinh xối xả bắn ra, đạn xuyên màng tang trung úy Nguyễn Quốc Chính đại đội phó của tôi khiến thằng em gục ngã ngay đợt xung phong đầu tiên. Vì là ngày “hưu chiến” nên không có hoả lực yểm trợ của KQ khiến chúng tôi sa lầy ngoài ruộng lúa !
Rồi không biết lệnh từ đâu, hồi lâu khu trục tới, dĩ nhiên người da vàng mũi tẹt cầm lái, TQLC chúng tôi thở phào thoải mái, nằm im ghìm súng nhìn chàng AD6 chúc đầu xuống trút bom rồi nghiêng cánh sắt lắc mình vọt lên không, không quên xịt từ đít xuống thêm vài tràng 12 ly 7.
Quá đã ! Từng bụi tre còn tróc gốc nói chi đến đám VC, chúng bị chôn sống, đám còn lại kiếm đường chuồn ! Hoạ vô đơn chí cho đám con chồn cháu cáo, khu trục đi thì Hoả Long đến. Trong đêm tối, nhìn rồng phun lửa, đạn từ trên phủ xuống đầu địch như những giải lụa hồng đẹp ơi là đẹp. Chúng tôi chiếm được mục tiêu vào lúc 5 giờ sáng, quân ta nhìn xác địch la liệt không toàn thây bên những hố bom.
Trở về vùng Ba, vào một sáng sớm tháng 10/1968, khi sương mù còn dầy đặc bao phủ rừng Cầu Khởi, Hố Bò, 9 trực thăng thẩy 90 anh em ĐĐ1/TQLC chúng tôi xuống trảng trống rồi vụt bay đi, nói “thẩy” vì trực thăng còn đang lơ lửng là chúng tôi phải nhẩy vội xuống rồi, bất kể qua màn sương dưới đất là cái khỉ gì.
Nhiệm vụ của 90 anh em tôi là “nhảy diều hâu”, nói cho dễ hiểu là bất chợt từ trên trời nhẩy xuống đất, nếu không gặp địch thì thì trực thăng đến bốc đi thả chỗ khác. Nếu đụng địch thì diệt, diệt không được thì cầm cự để đại đơn vị đến tiếp sức.
Trò chơi này cũng hấp dẫn lắm, lính bộ binh mà không phải lội bộ ngày 20 cây số là thú vị rồi. Nay tới tuổi về “hiu”, đọc sách coi phim trên đất Mỹ mới thấy buồn cho anh em mình bị xem như con dê đem cột cổ trong rừng để dụ ác thú ! Dê càng kêu be-be thì người thợ săn trong lầu son gác tía càng dễ “be-he” !.
Trở lại khu rừng có tên Cầu Khởi, rừng sao im lặng quá, không tiếng chim kêu, không có nai hoẵng gọi đàn đi ăn sương sớm, như vậy ắt là có hơi người, nói đúng hơn là lũ “cáo hồ” đang rình rập đâu đây, kinh nghiệm dậy cho tôi biết vậy nên ra lệnh cho anh em sẵn sàng và báo về đơn vị mẹ chuẩn bị tiếp cứu.
Ánh nắng vừa xuyên qua khe lá, sương vừa tan dần, cỏ cây rung động là biết mình đã bị bao vây, từng đám người cài đầy cành lá đang lom khom men theo từng gốc cao su áp sát chúng tôi và hai bên súng nổ.
Đơn vị mẹ đổ bộ trực thăng xuống một LZ khác cũng bị “uýnh” luôn nên nhóm 90 anh em tôi đành “seo-sẹc-vít”, tự lực cánh sinh. Bài này không phải để diễn tả trận đánh của bộ binh nên cho phép tôi bỏ qua diễn tiến chuyện bắn nhau, chỉ sơ lược đại khái để độc giả thấy anh em tôi đang trong tình trạng thập tử chí nguy.
Cuối cùng thì khu trục, gunship HU1D và “cô-ba” đã luân phiên thay nhau, theo lệnh “bà-già” bao che và cứu chúng tôi. Có KQ 64 nào cầm lái cô-ba (cobra) đó không ? Ngồi ôm súng dưới đất ngước lên nhìn các cô-ba thân hình thon gọn với hai ống hoả tiễn hai bên, liệng qua lách lại phóng hoả chưởng xuống đầu địch mà sướng rên. Nhờ cứu bồ tận tình và kịp thời mà trong số 90 anh em chúng tôi chỉ có 20 wishky và 8 kilô ! Nếu không có cô-ba, tôi chẳng còn có dịp ngồi đây viết gửi lời cám ơn muộn màng sau gần 40 năm đến các anh KQ.
Còn nhiều lắm, nhưng bấy nhiêu đó cũng đủ nói lên sự tối cần thiết và quan trọng của những chàng KQ trong cuộc chiến, một đơn vị như chúng tôi mà còn cần đến KQ như thế thì những đại đơn vị, những chiến thắng to hơn thì cần sự góp sức và công của KQ cần thiết biết là bao nhiêu ! Nhưng hình như các “ngôi sao anh dũng” tưởng thưởng cho các phi công thì ... lơ thơ tơ liễu, “gửi gió cho mây ngàn bay” !
Dù cấp lớn hay đơn vị nhỏ, từ Gio Linh Đông Hà tới Năm Căn, Cái Nước Cà Mâu, đâu đâu mỗi bước TQLC chúng tôi đi đều được “Bà Già” hay cô Loan 19 theo sát để săn sóc sức khỏe. Nếu không có quý “bà và cô” thì chúng tôi sứt mẻ khôn lường.
Một lần tại chiến trường Chương Thiện, địch xung phong đông trong khi những AD6, A37 còn bận đổ xăng thì “Cô Loan” bèn xịt xuống một hoả tiễn khói trắng để hù, địch khựng lại trong giây lát là đủ thời gian “xì-kai-đơ” lên vùng.
Nếu như ở hậu phương, “vua” nằm chờ hoàng hậu, sốt ruột vua phải than :
“Đêm Xuân, mỗi khắc giá đáng ngàn vàng đó ái khanh” !
Thì ngoài chiến trường, lính đánh giặc chúng tôi cũng kêu :
“Cứu quân, mỗi khắc giá đáng ngàn sinh mạng đó các anh KQ ơi”.
Và lúc nào các anh KQ cũng sẵn sàng. Chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị ư ? Mấy ai đã biết cái Cổ Thành là cái chi chi nếu chị không phải là người Huế, anh không quê Quảng Trị. Thành cao hào sâu nếu không có hoả lực KQ tiếp sức thì phải cần bao nhiêu xương và máu mới chiếm được Cổ Thành ? Có mấy ai biết rằng trung bình mỗi ngày có tới hằng trăm TQLC được gói poncho để dưới chân tường thành làm nấc thang cho đồng đội tiến lên và tiếp tục gục ngã !
Không biết trong số những anh cỡi A37, AD6, Gunship HU1D, Thundership, Phantom, Cô-Ba, Cô-Loan để giúp TQLC chúng tôi thanh toán mục tiêu Cổ Thành thì có anh nào mang tên Phan Trừng, Nguyễn Xuân Huề, Lê Hồng Triển, Định-Lắc, Vinh-Đèo, Lữ Minh Đức, Trực-Khều, Nguyễn Văn Tỏ, Minh-Lõ, Nguyễn Viết-Trường ... ?
Ngoài những anh KQ ngoài chiến trường mà tôi yêu mến, còn có những Không Quân ở hậu phương tôi hằng kính phục, dù đã 40 năm qua. Khi viết những dòng này tôi không còn nhớ quý vị ấy mang cấp bậc gì, chức vụ cao thấp ra sao mà vì những biệt danh mà thuộc cấp ưu ái dành tặng cho họ là “Anh Sáu Lèo, Anh Năm Vinh”.
Trận Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn, đơn vị TQLC chúng tôi “bị” đặt dưới quyền sử dụng của Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Giám Đốc đài phát thanh. Tôi dùng chữ “bị” vì một lính tác chiến rất ngại đến gần, nói thẳng ra là không có cảm tình với mấy ông quan to ở thành phố, nhưng sau một thời giam làm việc dưới quyền của họ, mọi ác cảm trong lòng tôi phải nhường chỗ cho sự kính phục.
Mới đây tôi có viết lại những kỷ niệm này trong câu chuyện “Vui Xuân Quên Nhiệm Vụ”, trong đó có nhắc tới anh “Năm Vinh” tức Không Quân Vũ-Đức-Vinh, Tổng Giám Đốc đài phát thanh đã thưởng cho đơn vị tôi một tấm “lắc” vì đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ và ông hứa sẽ gửi cho những băng nhạc Thái Thanh, nhưng vì đơn vị tôi đi hành quân liên miên và không có địa chỉ cố định nên không nhận được.
Khi nhắc lại kỷ niệm vui với tấm lòng kính trọng các anh, tôi thật tình không hề có ý “khiếu nại” và cũng không biết “Anh Năm Vinh” ở nơi nào trên trái đất này. Nhưng thật bất ngờ một thời gian sau khi bài viết được đăng, tôi nhận được 4 DVD toàn là nhạc của Thái Thanh do chị Vũ Đức Vinh và cháu Tùng gửi đến.
Thật là quá ngạc nhiên và cảm động nhưng cũng thật bối rối không biết phải nói làm sao, đã năm lần bẩy lượt tôi cố gắng viết câu chuyện : “Món quà vô giá nhận được sau 40 năm” để tạ lỗi cùng chị và gia đình anh Năm nhưng không đủ ngôn ngữ để trình bày những điều muốn nói ! Thôi thì nhân dịp nói về những KQ, tôi cám ơn chị và cháu Tùng về món quà vô giá đó và xin chị tha thứ nếu những điều vui tôi nhắc về anh làm chị buồn.
Còn ông KQ “Sáu Lèo”, lúc nào cũng áo giáp phanh ngực, đưa cái đầu trần trán hói chạy như con thoi khắp thành phố Sài Gòn Chợ Lớn. Nơi nào có tiếng súng nổ là ông chạy đến khiến chúng tôi theo ông mà phát mệt.
Dù ở chiến trường hay hậu phương và nhất là sau ngày 30/04/1975 ở trong tù, tôi thấy các anh, những cái tên KQ quen thuộc vẫn giữ được phong thái phi công hào hoa và quả cảm của những chàng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Nhân dịp Đại Hội KQ 64ABCDD+, xin chân thành gửi đến tất cả các anh lời cám ơn đã SOL (Sale) chúng tôi, “Save Our Lives” cứu chứ không phải bán sale. Huynh đệ chi binh QLVNCH chẳng bao giờ bán nhau.
Chúc các anh mãi mãi vẫn đủ sức khỏe để bay bổng và chúc quý vị “lái phi công” luôn điều khiển được những con chim sắt. Bắt chim ... sắt phải nghe lời ./.
http://www.congdongnguoiviet.fr/DienDan/0811NhungAnhKQh.htm
---
ToVanCap, Cập Nhựt 11/11/2008
Kể từ sau khi đọc xong cuốn “Đời Phi Công” của Toàn Phong, mỗi buổi sáng thay vì chạy bộ như thường lệ thì tôi lại giang thẳng 2 tay nghiêng cánh sắt, khi nghiêng bên phải lúc nghiêng trái chạy vòng vòng, môi chúm lại phát ra những tiếng “ù ù”, chúi đầu về phía trước bắn súng miệng : “pằng-pằng”. Mê KQ đến như thế nên khi Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ đến trường Pétrus Ký thuyết trình và chiêu dụ thanh niên chọn con đường “đi mây về gió” là tôi nạp đơn tình nguyện liền mặc dù lúc đó mới đang học lớp đệ nhất. Vì thiếu kinh nghiệm không biết uống 2 lít nước trước khi bước lên bàn cân nên bị loại vì không đủ tiêu chuẩn 50 kg.
Thua keo này ta bày keo khác, vừa hoàn thành “tú-đúp” lại nạp đơn liền, rút kinh nghiệm, kỳ này tôi uống thật nhiều nước, một lít nước nặng 1 kg chứ ít sao. Có lẽ ông trung sĩ có phận sự cân đo biết được “tẩy” của những chàng nhẹ ký nhưng nặng tình với KQ nên ông ta tà-tà không đi đâu mà vội ! Chỉ tội nghiệp cho người đứng trên bàn cân thì ôm bụng nhăn nhó đau khổ có thể tức nước vỡ bờ.
Nói ra các bạn đừng cười, thủa thiếu thời tôi mê KQ không phải vì bảo vệ vùng trời Tổ Quốc thân yêu mà vì thấy KQ được nhiều “người yêu” quá ! Yêu anh có cái mũ ca-lô đội lệch, bộ áo liền quần với nhiều “phec-mơ-tuya”, yêu anh có dao găm cùng 2 khẩu súng lủng lẳng hai bên, thương anh bay đêm với khúc bánh mì dắt túi.
Bạn bè cùng khám sức khỏe đã nhận được giấy gọi trình diện tại trại Phi Long TSN, còn tôi, đã bao ngày đợi mong chẳng thấy bóng “em” đâu nên tôi đầu quân vào Võ Bị. Chính vì mối tình dở dang với nàng KQ, “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” nên dù đã là Võ Bị, là TQLC, tôi vẫn yêu mến KQ, rất vui và hãnh diện được làm quen với những chàng KQ tử tế và hình như họ ... đều như thế cả.
Người đầu tiên tôi phải kể là tên Nguyễn xuân Thanh, tuy cùng chung lớp cùng trường Lycée Pétrus Ký nhưng nó Nam-Kỳ tôi rau muống, một tên Bê-Ka duy nhất trong lớp nên tên Xuân Thanh và đồng bọn ác ôn hành hạ tôi vô cùng khốn đốn, thấy mặt tôi là chúng la “B.K ăn cá rô cây” hay tệ hơn là chúng ca bài cải lương mà tôi nhớ suốt đời :
- “Ớ cái thằng nhỏ, mày đau làm sao mà dưới đ ... có cộng rau ... ”
Người xưa có nói : “trăm năm trả thù vẫn chưa muộn” nên tôi chờ sau khi ra trường, đi Võ Bị rồi tình nguyện về TQLC mới đi tìm tung tích hắn khắp 4 vùng chiến thuật nhưng vẫn chưa gặp, nghe nói nó đi KQ, nó bay trực thăng hay lái “bà già” ? Thiên bất dung gian, gần 50 năm sau bất ngờ đụng nhau trên đường Bolsa khi “bà già” lái nó bằng Honda Accord từ Oklahoma đường xa vạn dặm về Little Sài Gòn để dự đại hội KQ.64, thế là ác chiến xẩy ra tại chiến trường “bún chả Hà Nội”.
Một người cùng lớp khác là Nguyễn quang Kim đi K 17/VB rồi được chọn về KQ. khi tôi vào VB thì hắn là khoá đàn anh và dĩ nhiên tôi được hắn ưu ái phạt nhiều hơn, nghe nói anh ta bay khu trục nhưng không biết “giờ này anh ở đâu ?”
Một tên cùng lớp cùng xóm là trực thăng Đỗ Văn Minh, không biết hắn học khoá mấy, đơn vị nào nhưng từ sau vụ Hạ-Lào 71, chúng tôi cùng chung giới tuyến Quảng Trị, KQ và TQLC thường hay nói chuyện “trên Trời dưới Đất” với nhau.
Ngày N giờ G khi một đơn vị TQLC ở trên đồi Carrol bị pháo kích nặng nề, nhiều lính bị thương trong tình trạng thập tử nhất sinh, trực thăng tải thương chưa xuống được ! Bất ngờ tôi nghe tiếng Minh léo nhéo trong máy, nó đi tiếp tế cho một đơn vị bạn ở động Bà-Thìn đang trên đường về, chắc nó biết tình trạng bi đát của tôi nên hối thúc bằng bạch văn luôn :
- “Chỉ điểm khói tím cho tao xuống bốc thương binh”.
- “Không được, nguy lắm, gà tây (Mỹ) có cover mà còn chưa xuống được…”
- “C ... ĐM, tao biết chỗ mày rồi, tao xuống ... ”.
Vừa mừng lại vừa lo nhưng không còn chọn lựa nào hơn, tôi bảo lính thả khói tím và chuẩn bị tải thương. Khói tím chưa kịp bốc cao thì chuồn chuồn từ đâu nhào tới tưởng như nó đạp thắng xe hơi, thương binh được cõng, bốc, vác thẩy lên sàn trực thăng trong khi cái càng máy bay không chạm đất và rồi nó cất cánh bay đi.
Lạy Chúa ! An toàn trong nháy mắt, tôi mừng muốn thở hắt ra, thương binh đã được tải thương. Nếu không kịp cứu sống thì cũng không phải chết hai lần ! Xác một người lính đã được gói poncho chưa kịp tải thương thì lại bị pháo VC “mở ra” hai ba lần ! Đó là những chuyện bình thường ngoài chiến trường !
Tôi biết Đỗ-Minh bị “củ” và bị ăn củ ... vì vi phạm nguyên tắc “an phi”, nhưng nó chỉ cười vì đó là chuyện “bình thường” ! Có tiếp xúc với chiến trường thì mới biết trường hợp cứu bạn của KQ Minh chỉ là một trong nhiều trường hợp “bình thường”.
Lại vào một ngày N giờ G khác, TQLC được lệnh đi tiếp cứu một trực thăng bị rớt cách động Ông-Đô 5 km hướng Tây-Bắc. Ngày thứ nhất qua đi không thấy gì, ngày thứ 2 vẫn thế, cấp trên chửi thề bảo tôi vô trách nhiệm ! Qua ngày thứ ba thấy xác trực thăng bị cháy nhưng không thấy “xương” phi công. Tiếp tục bung rộng lục soát từng hốc đá bụi cây và ... tiếng Thiếu úy Nghĩa trung đội trưởng báo trên máy : “Đây rồi”.
Người phi công, quần bị cháy dở dang, nằm thở thoi thóp trong bụi rậm, kiến bu quanh vết thương đùi đã có mùi, có dòi ! Đã 3 ngày rồi còn gì ! Vậy mà chỉ cần vài nắp bi-đông nước cho ướt cặp môi khô đang rỉ máu thì bản năng sinh tồn khiến người phi công mở mắt, nhe hàm răng, đã 3 ngày không bàn chải, mỉm cười :
- “Tụi mày cứu tao đấy à ? TQLC đẻ tao lần thứ 2”.
Thật khó khăn nhận ra nó nếu không có cái bảng tên Minh, chính nó là trực thăng Đỗ Văn Minh đã chui vào đạn pháo cứu thương binh TQLC mấy ngày trước đây thôi. Mừng quá hoá bực mình, tôi chửi thề :
- “ Đẻ cái con c ... , mày hành tụi tao tìm ba ngày nay rồi, đứng dậy ... đi”.
Cứ như đùa với tử thần, lại còn ăn nói lỗ mãng, nhưng nếu có một hoạ sĩ nào vẽ lên khung vải không phải bức tranh “vân cẩu” mà là bức tranh tình huynh-đệ “KQ&TQLC” này thì chắc cũng dễ thương lắm nhỉ.
Cũng cần thêm vào bức tranh “KQ&TQLC” này một tấm lòng của phi công chở quan ... tài, anh bay C130 khứ hồi Sài Gòn Đà Nẵng chở quân, chở quan và quan tài của TQLC suốt trong thời gian SĐ/TQLC hành quân ở vùng I. Anh bay không mệt mỏi cho nhu cầu chiến trường, tiếp tế, tải thương, bổ sung quân số. Những khi phi cơ chở đầy quan-tài thì anh cho phép quan đi phép ngồi trong phòng lái. Nhờ vậy tôi mới biết thế nào là “sướng tận 9 tầng mây xanh”. Anh lái chim sắt qua những tầng mây xám, máy bay thì rung, mây bay vùn vụt như đập vào mặt khiến chân chúng tôi đạp thắng, tay ôm ngực tay bịt mồm cho khỏi bị ói khiến Trần văn Hợp chửi thề :
- “Thằng Vinh bay như con ... c ... ”
Rồi 2 thằng bạn cùng khoá nắm tay nhau cười, nay thì Hợp ở “chín suối”, người còn ở lại ấy là Vinh Đèo Đào quang Vinh.
Chẳng cứ phải là trực thăng Đỗ Văn Minh hay Đào Quang Vinh cùng lớp, cùng khoá, cùng xóm với TQLC mới đối xử với nhau tận tình như thế, kể sao cho hết những trường hợp người không quen mặt, bạn không biết tên. KQ đã quên mình trên Trời mà cứu Bộ Binh dưới đất. Tôi không có đủ khả năng để kể hết, nói lên những tấm gương sáng này, chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp xin gửi lời cám ơn muộn màng đến những chàng KQ không quen biết đã tiếp và cứu đơn vị tôi trong những lúc khốn đốn.
Năm 1965, trên đường vào cứu đồn Đức Cơ, Kontum, toàn đơn vị sa vào thế trận “công đồn đả viện” của địch, những “con ma, thần sấm” đến thả bom cứu bồ. Địch trong hầm hố lại quá gần quân ta nên bom thả từ trên cao kém hiệu quả, rồi thình lình một phản lực xì khói, cánh dù bung ra trên tít trời cao ! Những phản lực còn lại bỏ mục tiêu dưới đất mà bay vòng tròn bao quanh cánh dù và thả bom diệt những tràng đạn lửa phòng không bắn lên.
Nhìn theo cánh dù lơ lửng trên cao tôi cầu mong sao cho nó bay về hướng quân ta, nhưng buồn thay, dù cứ bay xa về hướng địch trong ánh nắng hoàng hôn và mất hút ở biên giới Việt Miên ! Tôi không biết người phi công ấy là Việt hay Mỹ nhưng lòng buồn khôn tả ! Trên khắp các chiến trường đã có những cánh dù như thế và người phi công không bao giờ trở về !
Phản lực đi rồi thì khu trục đến, trông nó xấu trai nhưng liều ra phết, nắm chắc là phi công là phe ta chứ không phải Tây, các chàng bay sát ngọn cây để tránh phòng không dầy đặc mà còn để thả bom xăng-đặc ngay trên tuyến những người “anh em”, không thành chả thì cũng thành nem nướng, tuy nằm cách xa mà chúng tôi cũng cảm thấy nóng tới độ muốn quăn cả lông mày lẫn lông tao. Sau vài “bát”, con cháu bác bỏ xác bạn chạy lấy người, mặt trận trở nên yên tỉnh.
Đêm về, nằm ngửa mặt trên tuyến nhìn ánh trăng không xuyên qua khỏi khói đạn bom, miệng há hốc không đủ ốc (xy) để ăn nhưng được an ủi không phải tiếp tục bóp cò và ăn pháo kích, địch đã cao chạy xa bay. Ngày hôm sau chúng tôi tiến vào tới đồn Đức Cơ thoải mái.
Cám ơn những người anh em phi công hào hoa, không có các anh tiếp đạn chắc chúng tôi sẽ vất vả lắm đấy, nhưng cho đến bây giờ vẫn không biết các anh là ai, những người cầm lái những khu trục đó ?
Quay về vùng Bốn, trận chiến trên kinh Cái Thia quận Cai Lậy vào ngày 31/12/1967 giữa 1 tiểu đoàn TQLC và 2 tiểu đoàn VC không kém khốc liệt. Trực thăng vừa đổ quân ta xuống là đã bị phủ đầu ngay bởi đủ mọi loại súng từ trong bờ kinh xối xả bắn ra, đạn xuyên màng tang trung úy Nguyễn Quốc Chính đại đội phó của tôi khiến thằng em gục ngã ngay đợt xung phong đầu tiên. Vì là ngày “hưu chiến” nên không có hoả lực yểm trợ của KQ khiến chúng tôi sa lầy ngoài ruộng lúa !
Rồi không biết lệnh từ đâu, hồi lâu khu trục tới, dĩ nhiên người da vàng mũi tẹt cầm lái, TQLC chúng tôi thở phào thoải mái, nằm im ghìm súng nhìn chàng AD6 chúc đầu xuống trút bom rồi nghiêng cánh sắt lắc mình vọt lên không, không quên xịt từ đít xuống thêm vài tràng 12 ly 7.
Quá đã ! Từng bụi tre còn tróc gốc nói chi đến đám VC, chúng bị chôn sống, đám còn lại kiếm đường chuồn ! Hoạ vô đơn chí cho đám con chồn cháu cáo, khu trục đi thì Hoả Long đến. Trong đêm tối, nhìn rồng phun lửa, đạn từ trên phủ xuống đầu địch như những giải lụa hồng đẹp ơi là đẹp. Chúng tôi chiếm được mục tiêu vào lúc 5 giờ sáng, quân ta nhìn xác địch la liệt không toàn thây bên những hố bom.
Trở về vùng Ba, vào một sáng sớm tháng 10/1968, khi sương mù còn dầy đặc bao phủ rừng Cầu Khởi, Hố Bò, 9 trực thăng thẩy 90 anh em ĐĐ1/TQLC chúng tôi xuống trảng trống rồi vụt bay đi, nói “thẩy” vì trực thăng còn đang lơ lửng là chúng tôi phải nhẩy vội xuống rồi, bất kể qua màn sương dưới đất là cái khỉ gì.
Nhiệm vụ của 90 anh em tôi là “nhảy diều hâu”, nói cho dễ hiểu là bất chợt từ trên trời nhẩy xuống đất, nếu không gặp địch thì thì trực thăng đến bốc đi thả chỗ khác. Nếu đụng địch thì diệt, diệt không được thì cầm cự để đại đơn vị đến tiếp sức.
Trò chơi này cũng hấp dẫn lắm, lính bộ binh mà không phải lội bộ ngày 20 cây số là thú vị rồi. Nay tới tuổi về “hiu”, đọc sách coi phim trên đất Mỹ mới thấy buồn cho anh em mình bị xem như con dê đem cột cổ trong rừng để dụ ác thú ! Dê càng kêu be-be thì người thợ săn trong lầu son gác tía càng dễ “be-he” !.
Trở lại khu rừng có tên Cầu Khởi, rừng sao im lặng quá, không tiếng chim kêu, không có nai hoẵng gọi đàn đi ăn sương sớm, như vậy ắt là có hơi người, nói đúng hơn là lũ “cáo hồ” đang rình rập đâu đây, kinh nghiệm dậy cho tôi biết vậy nên ra lệnh cho anh em sẵn sàng và báo về đơn vị mẹ chuẩn bị tiếp cứu.
Ánh nắng vừa xuyên qua khe lá, sương vừa tan dần, cỏ cây rung động là biết mình đã bị bao vây, từng đám người cài đầy cành lá đang lom khom men theo từng gốc cao su áp sát chúng tôi và hai bên súng nổ.
Đơn vị mẹ đổ bộ trực thăng xuống một LZ khác cũng bị “uýnh” luôn nên nhóm 90 anh em tôi đành “seo-sẹc-vít”, tự lực cánh sinh. Bài này không phải để diễn tả trận đánh của bộ binh nên cho phép tôi bỏ qua diễn tiến chuyện bắn nhau, chỉ sơ lược đại khái để độc giả thấy anh em tôi đang trong tình trạng thập tử chí nguy.
Cuối cùng thì khu trục, gunship HU1D và “cô-ba” đã luân phiên thay nhau, theo lệnh “bà-già” bao che và cứu chúng tôi. Có KQ 64 nào cầm lái cô-ba (cobra) đó không ? Ngồi ôm súng dưới đất ngước lên nhìn các cô-ba thân hình thon gọn với hai ống hoả tiễn hai bên, liệng qua lách lại phóng hoả chưởng xuống đầu địch mà sướng rên. Nhờ cứu bồ tận tình và kịp thời mà trong số 90 anh em chúng tôi chỉ có 20 wishky và 8 kilô ! Nếu không có cô-ba, tôi chẳng còn có dịp ngồi đây viết gửi lời cám ơn muộn màng sau gần 40 năm đến các anh KQ.
Còn nhiều lắm, nhưng bấy nhiêu đó cũng đủ nói lên sự tối cần thiết và quan trọng của những chàng KQ trong cuộc chiến, một đơn vị như chúng tôi mà còn cần đến KQ như thế thì những đại đơn vị, những chiến thắng to hơn thì cần sự góp sức và công của KQ cần thiết biết là bao nhiêu ! Nhưng hình như các “ngôi sao anh dũng” tưởng thưởng cho các phi công thì ... lơ thơ tơ liễu, “gửi gió cho mây ngàn bay” !
Dù cấp lớn hay đơn vị nhỏ, từ Gio Linh Đông Hà tới Năm Căn, Cái Nước Cà Mâu, đâu đâu mỗi bước TQLC chúng tôi đi đều được “Bà Già” hay cô Loan 19 theo sát để săn sóc sức khỏe. Nếu không có quý “bà và cô” thì chúng tôi sứt mẻ khôn lường.
Một lần tại chiến trường Chương Thiện, địch xung phong đông trong khi những AD6, A37 còn bận đổ xăng thì “Cô Loan” bèn xịt xuống một hoả tiễn khói trắng để hù, địch khựng lại trong giây lát là đủ thời gian “xì-kai-đơ” lên vùng.
Nếu như ở hậu phương, “vua” nằm chờ hoàng hậu, sốt ruột vua phải than :
“Đêm Xuân, mỗi khắc giá đáng ngàn vàng đó ái khanh” !
Thì ngoài chiến trường, lính đánh giặc chúng tôi cũng kêu :
“Cứu quân, mỗi khắc giá đáng ngàn sinh mạng đó các anh KQ ơi”.
Và lúc nào các anh KQ cũng sẵn sàng. Chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị ư ? Mấy ai đã biết cái Cổ Thành là cái chi chi nếu chị không phải là người Huế, anh không quê Quảng Trị. Thành cao hào sâu nếu không có hoả lực KQ tiếp sức thì phải cần bao nhiêu xương và máu mới chiếm được Cổ Thành ? Có mấy ai biết rằng trung bình mỗi ngày có tới hằng trăm TQLC được gói poncho để dưới chân tường thành làm nấc thang cho đồng đội tiến lên và tiếp tục gục ngã !
Không biết trong số những anh cỡi A37, AD6, Gunship HU1D, Thundership, Phantom, Cô-Ba, Cô-Loan để giúp TQLC chúng tôi thanh toán mục tiêu Cổ Thành thì có anh nào mang tên Phan Trừng, Nguyễn Xuân Huề, Lê Hồng Triển, Định-Lắc, Vinh-Đèo, Lữ Minh Đức, Trực-Khều, Nguyễn Văn Tỏ, Minh-Lõ, Nguyễn Viết-Trường ... ?
Ngoài những anh KQ ngoài chiến trường mà tôi yêu mến, còn có những Không Quân ở hậu phương tôi hằng kính phục, dù đã 40 năm qua. Khi viết những dòng này tôi không còn nhớ quý vị ấy mang cấp bậc gì, chức vụ cao thấp ra sao mà vì những biệt danh mà thuộc cấp ưu ái dành tặng cho họ là “Anh Sáu Lèo, Anh Năm Vinh”.
Trận Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn, đơn vị TQLC chúng tôi “bị” đặt dưới quyền sử dụng của Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Giám Đốc đài phát thanh. Tôi dùng chữ “bị” vì một lính tác chiến rất ngại đến gần, nói thẳng ra là không có cảm tình với mấy ông quan to ở thành phố, nhưng sau một thời giam làm việc dưới quyền của họ, mọi ác cảm trong lòng tôi phải nhường chỗ cho sự kính phục.
Mới đây tôi có viết lại những kỷ niệm này trong câu chuyện “Vui Xuân Quên Nhiệm Vụ”, trong đó có nhắc tới anh “Năm Vinh” tức Không Quân Vũ-Đức-Vinh, Tổng Giám Đốc đài phát thanh đã thưởng cho đơn vị tôi một tấm “lắc” vì đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ và ông hứa sẽ gửi cho những băng nhạc Thái Thanh, nhưng vì đơn vị tôi đi hành quân liên miên và không có địa chỉ cố định nên không nhận được.
Khi nhắc lại kỷ niệm vui với tấm lòng kính trọng các anh, tôi thật tình không hề có ý “khiếu nại” và cũng không biết “Anh Năm Vinh” ở nơi nào trên trái đất này. Nhưng thật bất ngờ một thời gian sau khi bài viết được đăng, tôi nhận được 4 DVD toàn là nhạc của Thái Thanh do chị Vũ Đức Vinh và cháu Tùng gửi đến.
Thật là quá ngạc nhiên và cảm động nhưng cũng thật bối rối không biết phải nói làm sao, đã năm lần bẩy lượt tôi cố gắng viết câu chuyện : “Món quà vô giá nhận được sau 40 năm” để tạ lỗi cùng chị và gia đình anh Năm nhưng không đủ ngôn ngữ để trình bày những điều muốn nói ! Thôi thì nhân dịp nói về những KQ, tôi cám ơn chị và cháu Tùng về món quà vô giá đó và xin chị tha thứ nếu những điều vui tôi nhắc về anh làm chị buồn.
Còn ông KQ “Sáu Lèo”, lúc nào cũng áo giáp phanh ngực, đưa cái đầu trần trán hói chạy như con thoi khắp thành phố Sài Gòn Chợ Lớn. Nơi nào có tiếng súng nổ là ông chạy đến khiến chúng tôi theo ông mà phát mệt.
Dù ở chiến trường hay hậu phương và nhất là sau ngày 30/04/1975 ở trong tù, tôi thấy các anh, những cái tên KQ quen thuộc vẫn giữ được phong thái phi công hào hoa và quả cảm của những chàng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Nhân dịp Đại Hội KQ 64ABCDD+, xin chân thành gửi đến tất cả các anh lời cám ơn đã SOL (Sale) chúng tôi, “Save Our Lives” cứu chứ không phải bán sale. Huynh đệ chi binh QLVNCH chẳng bao giờ bán nhau.
Chúc các anh mãi mãi vẫn đủ sức khỏe để bay bổng và chúc quý vị “lái phi công” luôn điều khiển được những con chim sắt. Bắt chim ... sắt phải nghe lời ./.
http://www.congdongnguoiviet.fr/DienDan/0811NhungAnhKQh.htm
---
Subscribe to:
Posts (Atom)

